* Theo quy định của Luật
an toàn, vệ sinh lao động năm 2015, các hành vi bị nghiêm cấm trong an toàn vệ
sinh lao động gồm 07 nhóm hành vi sau:
(1) Che giấu, khai báo
hoặc báo cáo sai sự thật về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; không thực hiện
các yêu cầu, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động gây tổn hại hoặc có
nguy cơ gây tổn hại đến người, tài sản, môi trường; buộc người lao động phải
làm việc hoặc không được rời khỏi nơi làm việc khi có nguy cơ xảy ra tai nạn
lao động đe dọa nghiêm trọng sức khỏe, tính mạng của họ hoặc buộc người lao động
tiếp tục làm việc khi các nguy cơ đó chưa được khắc phục.
(2) Trốn đóng, chậm
đóng tiền bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chiếm dụng tiền đóng, hưởng
bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc
thực hiện bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; không chi trả chế độ bảo
hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động; quản lý, sử dụng Quỹ
bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp không đúng quy định của pháp luật;
truy cập, khai thác trái pháp luật cơ sở dữ liệu về bảo hiểm tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp.
(3) Sử dụng máy, thiết
bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động không được kiểm
định hoặc kết quả kiểm định không đạt yêu cầu hoặc không có nguồn gốc, xuất xứ
rõ ràng, hết hạn sử dụng, không bảo đảm chất lượng, gây ô nhiễm môi trường.
(4) Gian lận trong các
hoạt động kiểm định, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, quan trắc môi trường
lao động, giám định y khoa để xác định mức suy giảm khả năng lao động khi bị
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến
quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng về an toàn, vệ sinh lao động của người lao
động, người sử dụng lao động.
(5) Phân biệt đối xử về
giới trong bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; phân biệt đối xử vì lý do người
lao động từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ có nguy cơ
xảy ra tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của mình;
phân biệt đối xử vì lý do đã thực hiện công việc, nhiệm vụ bảo đảm an toàn, vệ
sinh lao động tại cơ sở của người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động, an
toàn, vệ sinh viên, người làm công tác y tế.
(6) Sử dụng lao động
hoặc làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động khi chưa
được huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động.
(7) Trả tiền thay cho
việc bồi dưỡng bằng hiện vật.
* Luật quy định về khám
sức khỏe và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động như sau:
Hằng năm, người sử dụng
lao động phải tổ chức khám sức khỏe ít nhất một lần cho người lao động; đối với
người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt
nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, người lao động là người khuyết tật, người lao động
chưa thành niên, người lao động cao tuổi được khám sức khỏe ít nhất 06 tháng một
lần.
Khi khám sức khỏe theo
quy định, lao động nữ phải được khám chuyên khoa phụ sản, người làm việc trong
môi trường lao động tiếp xúc với các yếu tố có nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp phải
được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.
Người sử dụng lao động
tổ chức khám sức khỏe cho người lao động trước khi bố trí làm việc và trước khi
chuyển sang làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hơn hoặc sau khi
bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đã phục hồi sức khỏe, tiếp tục trở lại
làm việc, trừ trường hợp đã được Hội đồng y khoa khám giám định mức suy giảm khả
năng lao động.
Người sử dụng lao động
tổ chức khám sức khỏe cho người lao động, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp tại
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo đảm yêu cầu, điều kiện chuyên môn kỹ thuật.
Người sử dụng lao động
đưa người lao động được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp đến cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh đủ điều kiện chuyên môn kỹ thuật để điều trị theo phác đồ điều trị bệnh
nghề nghiệp do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định.
Chi phí cho hoạt động
khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp, điều trị bệnh nghề nghiệp cho
người lao động do người sử dụng lao động chi trả quy định tại các khoản 1, 2, 3
và 5 Điều này được hạch toán vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu
thuế theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và hạch toán vào chi phí hoạt động
thường xuyên đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp không có hoạt động dịch
vụ.
*
Điều kiện sử dụng người lao động cao tuổi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm được quy định tại khoản 1 Điều 64 của Luật an toàn vệ sinh lao động
như sau:
Chỉ
sử dụng người lao động cao tuổi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm,
đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người lao
động cao tuổi khi có đủ các điều kiện sau đây:
Người
lao động cao tuổi có kinh nghiệm, tay nghề cao với thâm niên nghề nghiệp từ đủ
15 năm trở lên; có chứng nhận hoặc chứng chỉ nghề hoặc được công nhận là nghệ
nhân theo quy định của pháp luật;
Người
lao động cao tuổi có đủ sức khỏe làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy
hiểm theo tiêu chuẩn sức khỏe do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành sau khi có ý kiến của
bộ chuyên ngành;
Chỉ
sử dụng không quá 05 năm đối với từng người lao động cao tuổi;
Có
ít nhất một người lao động không phải là người lao động cao tuổi cùng làm việc;
Có
sự tự nguyện của người lao động cao tuổi khi bố trí công việc.
* Đối với lao động là
người giúp việc gia đình, người sử dụng lao động có trách nhiệm hướng dẫn cách
sử dụng máy, thiết bị, đồ dùng, các biện pháp phòng, chống cháy, nổ trong gia
đình có liên quan đến công việc của lao động là người giúp việc gia đình; thực
hiện các chế độ có liên quan đến bảo đảm an toàn và chăm sóc sức khỏe của lao động
là người giúp việc gia đình.