Hỏi đáp một số quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
1. Hỏi: Pháp luật
quy định bao nhiêu tuổi được quyền bầu cử, ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân
dân các cấp?
Đáp: Theo quy định tại
Điều 2, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, tuổi
bầu cử và tuổi ứng cử như sau: Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và
đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân
các cấp theo quy định của Luật này.
2. Hỏi: Ai được
quyền bầu cử?
Đáp: Theo quy định tại
khoản 1, Điều 29, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm
2015: Mọi công dân có quyền bầu cử đều được ghi tên vào danh sách cử tri và được
phát thẻ cử tri, trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 30 của Luật này.
Khoản
1, Điều 30 quy định như sau: Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời
gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án
treo, người mất năng lực hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử
tri.
3. Hỏi: Người đang
bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt
buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được ghi tên vào danh sách cử tri hay không?
Đáp: Được. Theo quy định
tại khoản 5, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm
2015: Cử tri là người đang bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp
đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được ghi tên vào
danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
nơi người đó đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở
giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
4. Hỏi: Những trường
hợp nào không được ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân?
Đáp: Theo quy định tại
Điều 37, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015:
(1)
Người đang bị tước quyền ứng cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật, người đang chấp hành hình phạt tù, người bị hạn chế hoặc mất năng lực
hành vi dân sự.
(2)
Người đang bị khởi tố bị can.
(3)
Người đang chấp hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án.
(4)
Người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của Tòa án nhưng chưa được
xóa án tích.
(5)
Người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc,
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc giáo dục tại xã, phường.
5. Hỏi: Pháp luật
quy định xóa tên người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân
dân như thế nào?
Đáp: Theo quy định tại
Điều 60, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015:
(1)
Người có tên trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội đã
được Hội đồng bầu cử quốc gia công bố mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi
tố bị can, bị bắt, giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự, chết
hoặc vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bầu cử thì Hội đồng bầu cử quốc gia xóa
tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội.
(2)
Người có tên trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng
nhân dân đã được Ủy ban bầu cử công bố mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi
tố bị can, bị bắt, giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự, chết
hoặc vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bầu cử thì Ủy ban bầu cử, sau khi thống
nhất ý kiến với Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, quyết
định xóa tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân
dân.
6. Pháp luật quy định
công dân có được quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về những sai sót trong việc
lập danh sách những người ứng cử như thế nào?
Đáp: Theo quy định tại
khoản 1, Điều 61, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm
2015:
Việc
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị được thực hiện như sau:
a)
Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến người ứng cử đại biểu Quốc hội, việc
lập danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội được gửi đến Ban bầu cử đại
biểu Quốc hội, Ủy ban bầu cử ở tỉnh, Hội đồng bầu cử quốc gia. Trường hợp người
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử,
Ủy ban bầu cử thì có quyền khiếu nại đến Hội đồng bầu cử quốc gia. Quyết định của
Hội đồng bầu cử quốc gia là quyết định cuối cùng;
b)
Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân
dân, việc lập danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp nào
thì được gửi tới Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp đó. Trường hợp người
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử
thì có quyền khiếu nại đến Ủy ban bầu cử ở cấp tương ứng. Quyết định của Ủy ban
bầu cử là quyết định, cuối cùng;
c)
Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử, Hội đồng bầu cử quốc gia phải ghi vào sổ và giải quyết
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị nhận được theo thẩm quyền.
7. Hỏi: Những đơn
tố cáo không có họ, tên người tố cáo có được xem xét, giải quyết không?
Đáp: Không. Theo quy
định tại khoản 3, Điều 61, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng
nhân dân năm 2015: Không xem xét, giải quyết đối với những đơn tố cáo không có
họ, tên người tố cáo hoặc mạo danh người khác để tố cáo.
8. Hỏi: Những hành
vi nào bị cấm trong vận động bầu cử?
Đáp: Theo quy định tại
Điều 68, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015:
Những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử:
(1)
Lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc
làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ
chức, cá nhân khác.
(2)
Lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận
động bầu cử.
(3)
Lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước
ngoài cho tổ chức, cá nhân mình.
(4)
Sử dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi
kéo, mua chuộc cử tri.
9. Hỏi: Nguyên tắc
bỏ phiếu theo quy định của Luật như thế nào?
Đáp: Theo quy định tại Điều
69, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015:
Nguyên tắc bỏ phiếu như sau:
(1)
Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội và bỏ một phiếu bầu đại
biểu Hội đồng nhân dân tương ứng với mỗi cấp Hội đồng nhân dân.
(2)
Cử tri phải tự mình, đi bầu cử, không được nhờ người khác bầu cử thay, trừ trường
hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này; khi bầu cử phải xuất trình thẻ cử
tri.
(3)
Cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải
tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri. Trường
hợp cử tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào
hòm phiếu.
(4)
Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu
được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của
cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử. Đối với cử tri là người
đang bị tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc,
cơ sở cai nghiện bắt buộc mà trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai
nghiện bắt buộc không tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng hoặc cử tri là người đang
bị tạm giữ tại nhà tạm giữ thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến trại
tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để cử
tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử.
(5)
Khi cử tri viết phiếu bầu, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử.
(6)
Nếu viết hỏng, cử tri có quyền đổi phiếu bầu khác.
(7)
Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào
thẻ cử tri.
(8)
Mọi người phải tuân theo nội quy phòng bỏ phiếu.
10. Hỏi: Thời gian
bỏ phiếu được quy định như thế nào?
Đáp: Theo quy định tại
Điều 71, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015: Thời
gian bỏ phiếu như sau:
(1)
Việc bỏ phiếu bắt đầu từ bảy giờ sáng đến bảy giờ tối cùng ngày. Tùy tình hình
địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu việc bỏ phiếu sớm hơn nhưng
không được trước năm giờ sáng hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá chín
giờ tối cùng ngày.
(2)
Trước khi bỏ phiếu, Tổ bầu cử phải kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng kiến của cử
tri.
(3)
Việc bỏ phiếu phải được tiến hành liên tục. Trong trường hợp có sự kiện bất ngờ
làm gián đoạn việc bỏ phiếu thì Tổ bầu cử phải lập tức niêm phong hòm phiếu,
tài liệu liên quan trực tiếp đến cuộc bầu cử, kịp thời báo cáo cho Ban bầu cử,
đồng thời phải có những biện pháp cần thiết để việc bỏ phiếu được tiếp tục.
11. Ngày bầu cử đại
biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 -
2031 trên phạm vi cả nước là ngày nào?
Đáp: Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại
biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 trên phạm vi cả nước là Chủ
Nhật, ngày 15/3/2026. Đây không chỉ là sự kiện chính trị - pháp lý, đợt sinh hoạt
dân chủ sâu rộng trong toàn xã hội, mà còn là dịp để mỗi người dân trực tiếp thực
hiện quyền làm chủ, thể hiện ý chí và trách nhiệm đối với sự phát triển của đất
nước./.