Cản trở hoặc không cho thành viên trong gia đình thực hiện các hoạt động tạo thu nhập hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì lý do giới tính có thể bị phạt tiền đến 10 triệu đồng
Hành
vi cản trở hoặc không cho thành viên trong gia đình thực hiện các hoạt động tạo
thu nhập hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì lý do giới tính có thể bị
phạt tiền đến 10 triệu đồng. Nội dung này được quy định tại Điều 5, Nghị định số
76/2026/NĐ-CP ngày 16/3/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định số 125/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bình đẳng giới.
*
Theo đó Điều 5 của Nghị định số 76/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2
và khoản 3 Điều 13 như sau:
Phạt
tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Cản
trở hoặc không cho thành viên trong gia đình thực hiện các hoạt động tạo thu nhập
hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì lý do giới tính; Đối xử bất bình
đẳng giữa các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính.
Phạt
tiền từ 10 triệu đồng đến 12 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
Đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở thành viên trong gia
đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc
sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính; Áp đặt việc thực hiện lao động
gia đình, sử dụng biện pháp tránh thai, triệt sản như là trách nhiệm của thành
viên trong gia đình thuộc một giới nhất định.
Phạt
tiền từ 12 triệu đồng đến 15 triệu đồng đối với hành vi dùng vũ lực nhằm cản trở
thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia
định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính.
*
Bên cạnh đó, Nghị định sửa đổi Điều 11 quy định các hành vi vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bình đẳng giới liên quan đến văn hóa, thể dục, thể thao như sau:
Phạt
tiền từ 3 triệu đồng đến 4 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
Xúc
phạm danh dự, nhân phẩm nhằm cản trở người sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật,
biểu diễn hoặc tham gia hoạt động văn hóa khác, hoạt động thể dục, thể thao vì
định kiến giới;
Đe
dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở người sáng tác, phê bình
văn học, nghệ thuật, biểu diễn hoặc tham gia hoạt động văn hóa khác, hoạt động
thể dục, thể thao vì định kiến giới.
Phạt
tiền từ 4 triệu đồng đến 7 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
Dùng
vũ lực cản trở người sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, biểu diễn hoặc
tham gia hoạt động văn hóa khác, hoạt động thể dục, thể thao vì định kiến giới;
Không
cho người khác sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, biểu diễn hoặc tham gia
hoạt động văn hóa khác, hoạt động thể dục, thể thao vì định kiến giới;
Phạt
tiền từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
Sáng
tác, lưu hành, xuất bản hoặc cho phép xuất bản các tác phẩm, văn hóa phẩm có nội
dung cổ vũ, tuyên truyền phân biệt đối xử về giới, định kiến giới dưới bất kỳ
thể loại, hình thức nào;
Truyền
bá tư tưởng, phong tục, tập quán lạc hậu mang tính phân biệt đối xử về giới dưới
mọi hình thức;
Ngoài
hình thức phạt tiền tùy trường hợp còn áp dụng hình thức xử phạt bổ sung như: Tước
quyền sử dụng giấy phép hoạt động từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi lưu
hành, xuất bản hoặc cho phép xuất bản; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính.
Bên
cạnh đó còn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả như:
Buộc
xin lỗi công khai người bị xâm phạm (trừ trường hợp người bị xâm phạm có đơn không
yêu cầu);
Buộc
khôi phục quyền lợi hợp pháp của người bị xâm phạm;
Buộc
tháo dỡ, sửa đổi, thay thế hoặc đính chính các tác phẩm, văn hóa phẩm có nội
dung định kiến giới, cổ vũ, tuyên truyền phân biệt đối xử về giới; nếu không
tháo dỡ, sửa đổi, thay thế hoặc đính chính thì buộc tiêu hủy các tác phẩm, văn
hóa phẩm có nội dung định kiến giới, cổ vũ, tuyên truyền phân biệt đối xử về giới;
Buộc
chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý trong trường hợp gây thiệt hại về
sức khỏe, tinh thần cho người bị xâm phạm;
Buộc
nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi quy định tại điểm a,
khoản 2 Điều này.
Nghị định này có hiệu
lực thi hành từ ngày 01 tháng 5 năm 2026.